Gửi câu hỏi của bạn

Đang tải...
  1. Ngọc Mẫn

    Ngọc Mẫn New Member

    Dislikes Received:
    0
    Best Answers:
    0
    E chào a.
    A ơi.e có chuyện liên quan đến pháp luật.nhưng có những trục trặc e k biết.a tư vấn giúp dùm e với
    Chuyện là em gái e bị 2ng bạn của nó hành hung chém gây thương tích. Giám định thương tất 21%
    Sự việc xảy ra ngày 9.5.2016.gđ e cũng đã làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án.
    Nhưng đến giờ chỉ mới tạm giam 1 ng. Còn 1 ng vẫn k bị j . Do ng kia thay đổi lời khai nhận hết do ng đó làm 1 mình. Nhưng trc đó khai là có ng kia nữa. Do 2 ng là bồ bịch với nhau nên thằng này nhận hết tội.
    Nhưng trc đó c.an giữ đt của thằng này có nội dung tin nhắn con bé kia nói nó mua con dao với vỏ chai bia. Rồi tnhan kêu là em gái e đang đi ra wa đi
    Với tin nhắn như vậy con bé này có bị đi tù k a.
     
    Tags:
  2. Hạnh Vũ

    Hạnh Vũ Administrator

    Dislikes Received:
    0
    Best Answers:
    0
    Qua thông tin bạn cung cấp, tôi hiểu rằng em gái bạn bị hai người bạn (tạm gọi là A và B) gây thương tích, tỷ lệ thương tật là 21%. Hiện tại, A đã bị tạm giam để điều tra vụ án còn B không bị tạm giam. Bạn không rõ tin nhắn điện thoại của B có nội dung cho thấy B tham gia vào việc gây thương tích cho em gái bạn có thể khiến B bị đi tù hay không. Liên quan đến vấn đề này, tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

    Hình phạt tù là một hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự. Việc B có bị phạt tù hay không do Tòa án có thẩm quyền quyết định bằng một bản án có hiệu lực căn cứ trên sự thật của vụ án và quy định của pháp luật hình sự. Theo Điều 10 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS), sự thật của vụ án phải được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Vì vậy, hiện tại khi việc điều tra vẫn đang được tiến hành và Tòa án chưa đưa ra bản án, không có đủ cơ sở để khẳng định B có bị phạt tù hay không. Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về trường hợp của em gái bạn dưới góc độ pháp lý, bạn có thể tham khảo quy định pháp luật về hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích và giá trị của tin nhắn điện thoại trong tố tụng hình sự mà tôi trình bày dưới đây.

    Thứ nhất, về hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích

    Theo thông tin bạn cung cấp, có thể thấy hành vi của A và B có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 104 BLHS. Khoản 1, khoản 2 Điều 104 BLHS quy định:

    "1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

    a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

    b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
    ...
    i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
    ...
    2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm..."


    Theo quy định trên, nếu A và B bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích thì A và B có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến bảy năm, tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Thứ hai, về giá trị của tin nhắn điện thoại trong vụ án hình sự

    Căn cứ Điều 64 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS), Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án dựa trên các chứng cứ của vụ án.

    Theo quy định của Luật Giao dịch điện tử năm 2005, tin nhắn điện thoại là một loại thông điệp dữ liệu. BLTTHS hiện hành không quy định thông điệp dữ liệu là nguồn chứng cứ (hình thức chứa đựng chứng cứ). Tuy nhiên, Điều 14 của Luật Giao dịch điện tử năm 2003 quy định thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì đó là một thông điệp dữ liệu.

    Vì vậy, thông tin trong tin nhắn điện thoại có thể được cơ quan điều tra, viện kiệm sát, Tòa án coi là chứng cứ để giải quyết vụ án nếu tin nhắn điện thoại đáp ứng các điều kiện của chứng cứ bao gồm: tính khách quan (có thật), tính hợp pháp (được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định) và tính liên quan (có liên quan đến việc giải quyết vụ án). Giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.

    Lưu ý rằng, dù được coi là chứng cứ trong vụ án, cũng giống như các chứng cứ khác, tin nhắn điện thoại của B sẽ được đánh giá trong mối quan hệ so sánh, đối chứng với tất cả chứng cứ, tình tiết khác của vụ án.

    Trên đây là ý kiến tư vấn của tôi đối với trường hợp của em gái bạn. Nếu bạn cần thêm thông tin hay có thắc mắc, bạn có thể liên hệ lại với tôi.
     
Đang tải...