Gửi câu hỏi của bạn

Đang tải...
  1. Ngọc Mẫn

    Ngọc Mẫn New Member

    Dislikes Received:
    0
    Best Answers:
    0
    Xin chào luật sư!

    Cho tôi hỏi về tình huống pháp luật sau đây:

    Chị Th. bị tâm thần bị kẻ xấu hiếp dâm. Phát hiện sự việc, anh V. là anh trai chị này đã vung dao chém nhiều nhát vào đối tượng giở trò đồi bại.

    Trong trường hợp này:

    - Hành vi của kẻ xấu giao cấu với chị Th. là nạn nhân bị tâm thần sẽ bị xử lý ra sao, theo điều luật nào?

    - Hành vi chém người của anh V., anh trai nạn nhân có được xem là phòng vệ chính đáng? Sau khi có giám định thương tổn, anh V. liệu có bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị xử lý như thế nào?

    Rất mong nhận được thư hồi đáp từ luật sư! Xin cảm ơn luật sư!

    Kính chúc luật sư sức khoẻ!
     
    Tags:
  2. Hạnh Vũ

    Hạnh Vũ Administrator

    Dislikes Received:
    0
    Best Answers:
    0
    Qua thông tin bạn cung cấp, tôi hiểu rằng chị Th là người đủ/trên 18 tuổi, bị mất năng lực hành vi dân sự do mắc bệnh tâm thần, đã bị một đối tượng (tạm gọi là A) hiếp dâm (giao cấu với chị Th trái ý muốn của chị Th). Phát hiện sự việc, anh V (có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự) là anh trai chị Th đã vung dao chém nhiều nhát vào A. Bạn không rõ hành vi của A và của anh V sẽ bị xử lý như thế nào. Liên quan đến vấn đề này, tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

    Thứ nhất, tội hiếp dâm được quy định tại Điều 111 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS). Theo nội dung của điều này, trách nhiệm hình sự của người có hành vi hiếp dâm không bị ảnh hưởng bởi tình trạng năng lực hành vi dân sự của nạn nhân.

    Cụ thể, nếu nạn nhân là người từ đủ 18 tuổi trở lên, dù nạn nhân bị mất năng lực hành vi dân sự hay có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, người phạm tội hiếp dâm đều có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, hình phạt có thể tăng đến chung thân phụ thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội (có tổ chức; nhiều người hiếp một người; phạm tội nhiều lần; đối với nhiều người; có tính chất loạn luân; tái phạm nguy hiểm; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội) hoặc hậu quả của hành vi phạm tội (làm nạn nhân có thai; gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên; làm nạn nhân chết hoặc tự sát) hoặc quan hệ phụ thuộc giữa người phạm tội và nạn nhân (nạn nhân là người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh).

    Để đưa ra bản án về tội danh và hình phạt đối với A, Hội đồng xét xử thuộc Tòa án nhân dân có thẩm quyền sẽ phải căn cứ vào toàn bộ tình tiết, chứng cứ của vụ án để xét xử theo quy định của Điều 111 BLHS nêu trên và các quy định khác có liên quan.

    Thứ hai, khái niệm "phòng vệ chính đáng" được quy định tại Điều 15 BLHS như sau: "Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên". Căn cứ quy định này, các quy định hướng dẫn và thực tiễn xét xử, có thể thấy một hành vi chỉ được coi là phòng vệ chính đáng nếu thỏa mãn đồng thời tất cả các điều kiện sau:

    (i) Hành vi xâm hại những lợi ích cần phải bảo vệ phải là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội;

    (ii) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần phải bảo vệ;

    (iii) Hành vi phòng vệ chính đáng gạt bỏ sự đe doạ, đẩy lùi sự tấn công và/hoặc tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người xâm hại;

    (iv) Hành vi phòng vệ phải cần thiết với hành vi xâm hại, tức là không có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại. Cần thiết không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe doạ gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ.

    Để xem xét một hành vi có phải phòng vệ chính đáng hay không, phải xem xét toàn diện, đầy đủ, khách quan những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ. Với thông tin bạn đã cung cấp, tôi không đủ cơ sở để kết luận hành vi của anh V có phải là phòng vệ chính đáng hay không. Ví dụ, nếu anh V biết việc chị Th bị A hiếp dâm sau khi sự việc đã kết thúc, khi đó, anh V mang dao đi tìm và chém A để "trả thù" thì hành vi của anh V chắc chắn không được coi là phòng vệ chính đáng. Ở hướng ngược lại (anh V phát hiện ra sự việc ngay khi hành vi hiếp dâm đang xảy ra và anh V chém A để buộc A chấm dứt hành vi của A), hành vi của anh V có thể được coi là phòng vệ chính đáng nếu thỏa mãn cả những điều kiện khác như đã nêu ở trên.

    Thứ ba, hành vi của anh V là hành vi cố ý gây thương tích cho A. Anh V có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này hay không và trách nhiệm như thế nào phụ thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi.

    Nếu hành vi của anh V là phòng vệ chính đáng, anh V sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bởi "phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm" (khoản 1 Điều 15 BLHS). Ngược lại, nếu hành vi của anh V không phải là phòng vệ chính đáng, anh V sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu tỉ lệ thương tật gây ra cho A đạt đến mức độ phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của anh V có thể thuộc các trường hợp sau:

    1. Hành vi của anh V là hành vi chống trả hành vi xâm phạm của A nhưng lại chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Trong trường hợp này, hành vi của anh V là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 106 BLHS (nếu tỷ lệ thương tật của A là từ 31% trở lên).

    2. Hành vi của anh V không phải hành vi chống trả (không thực hiện ngay khi A đang hiếp dâm chị Th, không nhằm mục đích ngăn chặn hành vi của A) nhưng được thực hiện khi anh V trạng thái tinh thần bị kích động mạnh khi biết được hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của A gây ra cho chị Th là người thân thích của anh V. Trong trường hợp này, hành vi của anh V có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh quy định tại Điều 105 BLHS (nếu tỷ lệ thương tật của A là từ 31% trở lên).

    3. Hành vi của anh V không thuộc trường hợp 1 và 2 nêu trên. Trong trường hợp này, hành vi của anh V có dấu hiệu của tội cố ý gây thương tích quy định tại Điều 104 BLHS (nếu tỷ lệ thương tật của a là từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng con dao mà anh V sử dụng bị coi là hung khí nguy hiểm hoặc dưới 11% nhưng làm A bị cố tật nhẹ).

    Hội đồng xét xử thuộc Tòa án nhân dân có thẩm quyền sẽ phải căn cứ vào toàn bộ tình tiết, chứng cứ của vụ án thu thập được trong quá trình điều tra của cơ quan điều tra để đưa ra bản án tuyên án về việc anh V có phạm tội hay không, tội danh gì và hình phạt tương ứng.

    Trên đây là ý kiến tư vấn của tôi đối với trường hợp bạn quan tâm, nếu còn vấn đề gì chưa rõ hoặc cần thêm thông tin, bạn có thể phản hồi phía dưới bài viết này.

    Trân trọng.
     
Đang tải...