Tranh chấp tài sản khi ly hôn giải quyết thế nào ?

0
Tranh chấp tài sản khi ly hôn giải quyết thế nào ?

Em muốn nhờ Công ty tư vấn cho em trường hợp phân chia tài sản như sau: Bố Mẹ em kết hôn từ năm 1986 (có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn), và có con chung là em (trên 18 tuổi và đã lập gia đình). Hiện tại, Bố Mẹ em đang có mâu thuẫn sâu sắc và có thể dẫn tới ly hôn. Bố em sống không có trách nhiệm và thường xuyên hành hạ, đánh đập, xúc phạm, đối xử tồi tệ với Mẹ em (phạm tội bạo hành trong gia đình). Đỉnh điểm của sự việc là Bố em còn ngoại tình công khai (phạm tội quan hệ bất chính ngoài hôn nhân). Vì không muốn kiện tụng, căng thẳng nên Bố Mẹ em quyết định ly hôn. Nhưng còn vấn đề tài sản, đất đai thì nếu ly hôn sẽ được tòa phân chia như nào. Tài sản cụ thể như sau: Bà nội em có mảnh đất (100m2), và đã cho Bố Mẹ em từ năm 1992 nhưng trên giấy tờ cho chỉ có tên Bố em.

Ngay sau đó Bố Mẹ em bán đi và mua 2 mảnh đất sau:

1: Mảnh đất 75m2 (mua năm 1992), đến năm 2006 mới xây dựng nhà 3,5 tầng. Nhưng mảnh đất này khi làm giấy tờ mua cũng chỉ có tên của Bố em (chưa làm sổ đỏ)

2: Mảnh đất 86,2m2 (mua năm 1992), đến năm 2000 mới xây nhà cho sinh viên thuê. Hiện tại mảnh đất này vừa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (ngày 27/12/2014) và khi làm cũng chỉ khai mình tên Bố em.

Vậy nhờ Công ty giải đáp cho em tài sản sẽ được phân chia như nào nếu Bố Mẹ em ly hôn? Với quá trình cho tặng, mua bán như trên liệu có phải là tài sản riêng của Bố em, hay sẽ là tài sản chung của cả 2 Vợ Chồng? (vì theo em biết 2 mảnh đất trên là tài sản phát sinh sau kết hôn) Mong Công ty giải đáp sớm nhất cho E

Người gửi: M.K.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụcTư vấn pháp luật hôn nhâncủa Pháp luật trực tuyến.

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân: Yêu cầu tư vấn

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi cho chúng tôi, về vấn đề của bạn sẽ được xác định như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình 2014

Luật đất đai 2013

Nghị định 126/2014/NĐ-CP: Hướng dẫn thi hành luật hôn nhân và gia đình 2014

Phân tích:

+) Về vấn đề chia tài sản sau ly hôn:

Căn cứ Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Xem thêm:  Có thể yêu cầu bố mẹ chồng cấp dưỡng nuôi con không?

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

+)Thêm vào đó điều 33 quy định khá rõ thế nào là tài sản chung và cách xác định tài sản chung:

Xem thêm:  Chưa ly hôn với vợ cũ mà có con với người khác có bị truy tố hình sự ?

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Tài sản là mảnh đất do bà nội bạn có mảnh đất (100m2), và đã cho Bố Mẹ bạn từ năm 1992 nhưng trên giấy tờ cho chỉ có tên Bố bạn được xác định là tài sản chung, trừ trường hợp bố bạn chứng minh được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Mặc dù có quy định của luật đất đai rằng “đất, nhà phải đăng ký quyền sử dụng, sở hữu”:

“Điều 98. Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

4. Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.

Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.”

Xem thêm:  Hai vợ chồng không có tài sản chung vậy khi ly hôn quyền nuôi cả hai con sẽ thuộc về ai ?

Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung như sau:
“1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều 33 của Luật này”.
Việc mẹ bạn không đứng tên trong sổ đỏ không mất đi quyền lợi của mẹ bạn. Tuy nhiên, do mẹ bạn chưa đứng tên trong sổ đỏ nên mẹ bạn nên làm thủ tục để đứng tên cùng chồng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hai mảnh đất.Mẹ bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy để ghi tên của cả vợ và chồng theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình, cụ thể như sau:
“Đối với tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả vợ và chồng”.
Việc một người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản không đồng nghĩa với việc tài sản này là tài sản riêng của người đó. Hơn nữa, xác định 2 mảnh đất mới mua này được hình thành từ số tiền chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên cho dù có đứng tên bố bạn thì vẫn được xem là tài sản chung của vợ chồng.
Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.
Trân trọng.
BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT – Pháp luật trực tuyến.

Luật sư Hà Trần

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *