Trình tự giải quyết thủ tục ly hôn tại tòa án thực hiện như thế nào ?

0
Trình tự giải quyết thủ tục ly hôn tại tòa án thực hiện như thế nào ?

Thủ tục ly hôn rút gọn có thể được áp dụng để giải quyết một số vụ việc hôn nhân gia đình đơn giản. Pháp luật trực tuyến tư vấn và giải đáp một số vấn đề pháp lý vướng mắc khi tiến hành thủ tục ly hôn tại tòa án.

I. Văn bản luật áp dụng

Luật hôn nhân và gia đình 2014

Luật tố tụng dân sự 2011

Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP

II. Phân tích nội dung

1. Quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn:

– Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.

– Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn

2. Thủ tục ly hôn:

a, Thủ tục đơn phương ly hôn:

– Hồ sơ bao gồm:

+ Đơn xin ly hôn theo mẫu.

+ Bản sao sổ hộ khẩu.

+ Bản sao chứng minh nhân dân.

+ Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).

+ Bản sao giấy khai sinh của con bạn.

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính). Trong trường hợp mất bản chính có thể đến nơi đăng ký kết hôn trước đây xin cấp lại bản sao hợp lệ, phải trình bày rõ lý do không có bản chính trong đơn ly hôn.

Lưu ý: các bản sao giấy tờ trên cần công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật.

– Nơi nộp hồ sơ: Toà án nhân dân quận/huyện nơi bị đơn có hộ khẩu thuờng trú, hoặc cư trú.

– Thời hạn giải quyết: thời hạn giải quyết đơn phương ly hôn có thể là 2 tháng đến 6 tháng. Và thời hạn mở phiên tòa là từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

b, Thủ tục thuận tình ly hôn:

– Hồ sơ bao gồm:

+ Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn;

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

+ Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

+ Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

+ Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).

– Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi cư trú, làm việc của một trong hai bên.

– Thời gian giải quyết:

+ Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Tòa án phải thụ lý vụ án, thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp án phí, người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa thụ lý vụ án.

+ Trong thời hạn 15 ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.

Xem thêm:  Dịch vụ môi giới hôn nhân không được pháp luật công nhận ?

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

3. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn

– Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

– Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

– Con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi ccon

4. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

– Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

– Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

– Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

– Trong trường hợp cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

– Trong trường hợp có căn cứ khi người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện, thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

+ Người thân thích;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

+ Hội liên hiệp phụ nữ.

5. Quyền thăm nom con sau khi ly hôn

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

6. Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài

– Nếu bị đơn (người bị kiện) có nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú) ở Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài do Tòa án nhân dân cấp Tỉnh/thành phố nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc thụ lý và giải quyết;

Xem thêm:  Thẩm quyền cấp bản sao giấy khai sinh?

– Nếu bị đơn (người bị kiện) không có nơi cư trú (thường trú hoặc tạm trú) ở Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài do Tòa án nhân dân cấp Tỉnh/thành phố nơi nguyên đơn cư trú hoặc làm việc thụ lý và giải quyết.

Cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài là trường hợp trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự cần phải tiến hành một hoặc một số hoạt động tố tụng dân sự ở nước ngoài mà Tòa án Việt Nam không thể thực hiện được, cần phải yêu cầu cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thực hiện hoặc đề nghị Tòa án, Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

Quý khách có thể dựa vào nội dung tư vấn trên đây để trả lời câu hỏi của mình. Pháp luật trực tuyến xin trả lời một số câu hỏi có nội dung riêng biệt như sau:

Chào Pháp luật trực tuyến. Tôi tên là nguyễn thị thơm, năm nay 32 tuổi. Cuộc sống hôn nhân của tôi không hạnh phúc nên tôi đang muốn xin ly hôn nhưng tôi vướng một số vấn đề như sau mong công ty tư vấn giúp. 1. Tôi đang mang thai tháng thứ 7 đứa con thứ ba vậy tôi có được lý hôn không? Trong khi chờ ly hôn tôi muốn khai sinh cho con theo họ mẹ thì cần làm những thủ tục gì? 2. Về việc cấp dưỡng cho con nếu các con theo tôi ở hết( một cháu 3 tuổi, một cháu hơn 1 tuổi và cháu sắp sinh) nếu chồng tôi không thực hiện thì tòa án có biện pháp nào bảo vệ quyền lợi đó cho con tôi không? Vì hiện tại kinh tế của tôi rất khó khăn còn chồng tôi do nợ nần cờ bạc cũng đang phải bán nhà, hơn nữa bản tính chồng tôi khá chi li việc tiền nong nên 99% chồng tôi sẽ không chu cấp cho con sau ly hôn? Tôi đang rất muốn thoát khỏi cuộc hôn nhân này, kính mong công ty tư vấn sớm giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Bạn có thể thực hiện khởi kiện ly hôn đơn phương hoặc yêu cầu thỏa thuân ly hôn ra tòa án theo quy định.

Việc khai sinh cho con mang họ mẹ, Tại điểm e khoản 1 Mục II Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định rõ về việc xác định họ và quê quán như sau:

Xem thêm:  Ly hôn khi chưa chuyển hộ khẩu về nhà chồng

“Khi đăng ký khai sinh, họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người cha hoặc họ và quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ.

Trong trường hợp đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không có quyết định công nhận việc nhận cha cho con, thì họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người mẹ.”

Ngoài ra, việc xác định con chung theo Điều 88 luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.”

Như vậy, con bạn sinh ra vẫn xác định là con chung của hai vợ chồng bạn, bạn muốn cho con mang họ mẹ thì bạn phải có thỏa thuận với chồng hoặc theo tập quán để xác định họ của con.

Theo khoản 1 Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác”.

Trường hợp của bạn, bạn hoàn toàn đòi được tiền cấp dưỡng nuôi con từ chồng cũ.

Trường hợp người này cố tình trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, bạn “có quyền yêu cầu tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó”, theo quy định tại khoản 1 Điều 119.

Theo quy định tại Điều 152 Bộ luật hình sự 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự,… không quy định trực tiếp biện pháp xử phạt đối với hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng. Tuy nhiên hành vi này được quy định chung tại điểm a khoản 3 Điều 52 Nghị định 110/2013/NĐ – CP. Theo đó, hành vi “không thực hiện công việc phải làm… theo bản án, quyết định” của tòa án có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân gia đình

Luật sư Hà Trần

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *